Thứ hai, 22/10/2018

Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo và sự ra đời của Uỷ ban liên lạc Công giáo Toàn quốc (Tổ chức tiền thân của UBĐKCGVN)

Cập nhật lúc 14:42 08/10/2018
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo và đoàn kết tôn giáo
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề tôn giáo. Nhưng Người không nghiên cứu tôn giáo vì tôn giáo. Người nói đến tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo không phải vì Thượng đế mà vì con người, không phải vì Thần Thánh hay Tiên, Phật mà vì quảng đại quần chúng nhân dân nô lệ bần hàn. Trên cơ sở của chủ nghĩa yêu nước chân chính, Hồ Chí Minh đã kế thừa một cách sáng tạo quan điểm cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề tôn giáo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin đã tập trung nghiên cứu về Công giáo trong bối cảnh cuộc đấu tranh tư tưởng đang diễn ra gay gắt ở phương Tây, trong khi Hồ Chí Minh là người đã rất tường tận và chịu ảnh hưởng sâu đậm từ văn hóa, tín ngưỡng của phương Đông. Từ nhận thức đó, Người đã gắn liền mọi vấn đề tôn giáo với sự nghiệp cách mạng, với lý tưởng độc lập dân tộc, với hoài bão cao cả là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng cho cả nhân loại và giải phóng cho cả con người.
Trước hết, Hồ Chí Minh nhận thức rõ sự tồn tại của tôn giáo là một tất yếu lịch sử. Tôn giáo là một phạm trù ý thức hệ nhưng nó vô cùng đặc biệt bởi lẽ nó tồn tại xuyên thời gian và cả không gian. Nó tồn tại ở khắp mọi nơi, trong các hình thái xã hội khác nhau và có một sức sống lâu bền trong quần chúng. Cuộc sống của con người không dễ dàng gạt bỏ đi tôn giáo. Tôn giáo tồn tại như một nhu cầu tâm linh của một bộ phận quần chúng nhân dân, là một phần trong đời sống tinh thần của xã hội. Ngay từ năm 1943, trong mục đọc sách của tập Nhật Ký trong tù, Người đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa[1]. Do đó, tín ngưỡng hay không tín ngưỡng là sự lựa chọn tự do của mỗi cá nhân. Mỗi công dân Việt Nam đều có quyền tự do theo hoặc không theo bất cứ một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng đều bình đẳng như nhau trước pháp luật Việt Nam.
Bên cạnh đó, qua những năm tháng bôn ba khắp năm châu bốn biển, được tiếp xúc với nhiều người, nhiều nền văn hóa, đã giúp Hồ Chí Minh hiểu được bản chất niềm tin tôn giáo của các tín đồ. Đó không phải một niềm tin thông thường mà là Đức tin mang tính thiêng cao cả. Đức tin ấy giữ vị trí trung tâm trong đời sống tinh thần của các tín đồ tôn giáo. Đức tin ấy chi phối mạnh mẽ mọi tâm tư, tình cảm và hành vi của họ. Bởi vậy, tôn trọng và đảm bảo tự do tín ngưỡng, đoàn kết tôn giáo là tư tưởng cốt lõi và xuyên suốt hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo.
Tuy khẳng định, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng theo Hồ Chí Minh, thế giới quan và niềm tin của những người theo tôn giáo và của những người cộng sản tuy khác nhau, nhưng về mục đích cơ bản có nhiều điểm tương đồng. Người nhận thấy bản chất tôn giáo và trong cả tư tưởng của những người sáng lập ra các tôn giáo chẳng có ai là không mong muốn cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp hơn, đạo đức hơn. Người đã viết:
Chúa Giêsu dạy: đạo đức là bác ái
 Phật Thích Ca dạy: đạo đức là từ bi
 Khổng Tử dạy: đạo đức là nhân nghĩa[2].
Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả… ”[3]
Tấm lòng bác ái, cao cả của Chúa, tinh thần từ bi, hỷ xả, cứu độ chúng sinh của Phật hay tư tưởng hòa mục của Khổng Tử chính là điểm chung trong tư tưởng của các bậc chí tôn. Mục đích cao cả của các vị ấy giống nhau ở chỗ họ đều muốn mưu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội. Xét cho cùng thì tất cả các tôn giáo đều hướng tới giá trị chung của con người, đó là CHÂN – THIỆN – MỸ. Vì vậy, lý tưởng cách mạng cũng có điểm trùng hợp với các tôn giáo, đó là cùng mang tính nhân văn sâu sắc, luôn đấu tranh cho con người, vì con người và cùng đóng góp cho sự tiến bộ của nhân loại.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và đoàn kết, Hồ Chí Minh luôn thấy rõ mối quan hệ giữa đạo và đời. Trên cơ sở nhận thức Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, mỗi tôn giáo tuy có lịch sử hình thành, quá trình du nhập, số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, vị trí vai trò xã hội và đặc điểm khác nhau, nhưng mọi tôn giáo đều tồn tại trong lòng dân tộc. Đồng bào các tôn giáo là một thành phần không thể tách rời của cộng đồng dân tộc. Người chỉ rõ: đã là người Việt Nam dù là lương hay giáo đều có chung cội nguồn sâu xa cùng nòi giống “con Rồng cháu Lạc”, cùng chung vận mệnh. Khi đất nước bị đô hộ thì mọi người dân đều khổ cực. Nước có độc lập thì tôn giáo mới được tự do, bình đẳng, mọi người dân mới được tự do, hạnh phúc, mới có cơm ăn, áo mặc, mới được học hành. Do đó, lợi ích của từng tôn giáo cũng gắn liền với lợi ích của quốc gia, dân tộc: Nước có vinh thì đạo mới sáng, nước có độc lập thì tôn giáo mới được tự do.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, lòng yêu nước và đức tin tôn giáo không có sự mâu thuẫn với nhau mà luôn luôn thống nhất. Một người Công giáo Việt Nam có thể vừa yêu nước nồng nàn, vừa là một tín đồ chân chính và ngoan đạo. Ngược lại, một kẻ chống lại dân tộc, chống lại Tổ quốc mình thì cũng chính là một kẻ phản Chúa. Trong bài báo Tuyên truyền cộng sản đăng trên báo Cứu Quốc số 2046 ra ngày 1/4/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Những người Công giáo Việt Nam theo Pháp và bù nhìn, làm hại đồng bào, chẳng những là Việt gian, mà cũng là giáo gian. Còn những đồng bào Công giáo kháng chiến mới là tín đồ chân chính của Đức Chúa, Vì những đồng bào ấy thật thà phụng sự Đức Chúa, phụng sự Tổ Quốc[4]. “Kính Chúa yêu nước”, “phụng sự Thiên Chúa - phụng sự Tổ quốc”… là điểm tương đồng của đa số bà con giáo dân nước Việt. Kính Chúa gắn liền với yêu nước, phụng sự Tổ quốc gắn liền với phụng sự Đức Chúa, sống tốt đời đẹp đạo… luôn luôn là mong ước của đồng bào theo đạo ở nước ta. Lòng yêu nước và đức tin tôn giáo thống nhất với nhau là cơ sở cho một điểm tương đồng lớn hơn là cùng chung mục đích giải phóng dân tộc, chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân cả phần xác lẫn phần hồn. Vì thế việc thực hiện đoàn kết Lương Giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc nhằm mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là cực kỳ quan trọng.
2. Chủ trương, chính sách đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Theo quan điểm Hồ Chí Minh, đoàn kết tôn giáo là một phần quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, là một trong những cơ sở nền tảng để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Đoàn kết tôn giáo gồm đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết giữa các đồng bào theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau và đoàn kết giữa đồng bào trong cùng tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng.
Ngay từ những ngày đầu của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Hồ Chí Minh đã khẳng định, đoàn kết dân tộc là một chiến lược lâu dài chứ không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời để đấu tranh thống nhất và độc lập của tổ quốc và xây dựng nước nhà. Từ năm 1941, sau khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân trong Mặt trận Việt Minh với chủ trương “không phân biệt đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo và xu hướng chính trị[5]. Ngoài ra, Người cũng đã tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân vào một số tổ chức hội đoàn khác như: Phật giáo Cứu quốc, Cao Đài cứu quốc, Công giáo cứu quốc… Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, các tổ chức hội đoàn trên không chỉ làm cho đồng bào tín đồ các tôn giáo thực sự hòa mình vào cuộc đấu tranh dân tộc mà còn có giá trị lý luận thực tiễn cao trong việc khắc phục sự thiếu hụt trong tư duy đoàn kết truyền thống. Tư tưởng đoàn kết đó của Hồ Chí Minh đã được các linh mục và giáo dân hết sức ủng hộ. Theo lời kể của Linh mục Trần Tam Tỉnh, các linh mục và giáo dân Công giáo hết sức ủng hộ phong trào cách mạng: “Năm 1945, giám mục, linh mục và giáo dân Việt Nam, tất cả đều ủng hộ Hồ Chủ tịch[6]. Đặc biệt, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, hàng chục vạn đồng bào Công giáo ở cả Hà Nội, Thái Bình, Vinh, Huế… đã xuống đường tham gia diễu hành, hoan nghênh và ủng hộ chính quyền cách mạng.
Năm 1946, không bao lâu sau khi giành được chính quyền, cách mạng Việt Nam lâm vào tình thế tựa “ngàn cân treo sợi tóc”. Đứng trước hoàn cảnh vô cùng khó khăn và nguy cấp ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn non trẻ đã thực hiện tư tưởng không phân biệt, nhằm đoàn kết hết thảy sức mạnh lớn lao của toàn dân tộc, quyết tâm chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi chông gai, thử thách. Người cho rằng: bên cạnh việc đẩy mạnh đấu tranh với những kẻ nhân danh Chúa chống lại Tổ quốc, thì nhiệm vụ to lớn hơn của toàn Đảng, toàn dân ta là đoàn kết với hàng triệu đồng bào Công giáo để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đưa cuộc cách mạng đến thắng lợi cuối cùng.
Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Hồ Chủ tịch được phát triển cao hơn trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”: “Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc[7]. Trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh có nhiều bài viết liên quan đến vấn đề tôn giáo. Bằng ngòi bút chân thực, Người đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết khi gắn liền việc đạo với đời, tự do tín ngưỡng, tôn giáo với giành độc lập tự do. Trong bài viết “Giặc Pháp và bù nhìn khinh phá đạo”, sau khi nêu ra tội ác của thực dân Pháp và bọn tay sai phản Chúa hại nước hại dân, Người kêu gọi: Lương giáo đoàn kết – diệt hết quân thù…
Để phát huy sức mạnh của đoàn kết Lương – Giáo, chống lại âm mưu chia rẽ phá hoại cách mạng của kẻ thù, ngay tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời (ngày 3/ 9/ 1945), khi đề cập đến 6 nhiệm vụ cấp bách của nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quan điểm và lập trường của chính phủ đối với vấn đề tôn giáo. Người đã tuyên bố: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và dồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết[8]. Người cũng khẳng định: “Trong Hiến pháp ta đã định rõ tín ngưỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, khiêu khích Công giáo thì sẽ bị phạt… Việt Nam độc lập đồng minh là cốt để đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập chứ không phải để chia rẽ, phản đối tôn giáo[9]. Trong buổi ra mắt Đảng lao động Việt Nam (3 – 3 – 1951), Hồ Chí Minh đã khẳng định thêm một lần nữa: Chúng tôi xin nói thêm hai điểm, nói rõ để tránh có sự hiểu lầm: Một là, vấn đề tôn giáo, thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người. Hai là, đối với các đảng phái, các đoàn thể trong Mặt trận dân tộc, thì Đảng Lao động Việt Nam chủ trương: Đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết lâu dài, cùng nhau tiến bộ
Trong thư gửi các vị linh mục và đồng bào Công giáo Việt Nam nhân ngày lễ Giáng sinh đầu tiên khi nước nhà độc lập (ngày 25/12/1945), Hồ Chủ tịch viết: “Hiện nay, toàn quốc đồng bào ta Công giáo và ngoại Công giáo đều đoàn kết rất chặt chẽ, nhất trí đồng tâm như con một nhà, ra sức đấu tranh để giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc. Ngoài sa trường thì xương máu của các chiến sĩ Công giáo và ngoài Công giáo đã xây nên một bức thành kiên cố vĩ đại để ngăn cản kẻ thù chung là bọn thực dân Tây. Ở khắp nơi trong nước, đồng bào Công giáo và ngoại Công giáo đang nỗ lực giúp vào cuộc kháng chiến và kiến quốc. Tinh thần hy sinh phấn đấu ấy tức noi theo tinh thần cao thượng của Đức Chúa Giêsu[10]. Đối với đồng bào Công giáo lầm đường lỡ bước, Hồ Chí Minh luôn có thái độ mềm mỏng và khuyên bảo mọi người mở rộng tấm lòng: “đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng ít nhiều có lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ.Có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang[11].
Bước vào thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, vấn đề đoàn kết tôn giáo ở cả hai miền, đặc biệt là miền Nam trở nên vô cùng phức tạp. Đế quốc Mỹ đã không từ một thủ đoạn nào nhằm câu kết với bọn phản động lợi dụng Thiên Chúa giáo để chống phá cách mạng Miền Nam. Cuối năm 1958, dưới thời Ngô Đình Diệm, miền Nam có 10% dân số là Công giáo mà có tới 30% dân biểu với 3 vị chủ tịch liên tiếp là Công giáo trong chính quyền; 50% quân đội của Diệm là người Công giáo; khoảng 40% tướng tá Ngụy là những giáo dân. Trước hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh không chỉ lo và đồng cảm với nỗi đau khổ của đồng bào Công giáo mà Người còn tiếp tục kêu gọi, động viên đồng bào phải chủ động theo gương sáng của Đức Chúa và phải thể hiện vào việc đời cụ thể. Người nói với đồng bào Công giáo: “Phúc âm dạy chúng ta rằng: Chúa cơ đốc sinh ra làm gương mọi giống phúc đức như: hy sinh vì nước vì dân, làm gương lao động, công bằng ruộng đất, tin thờ Chúa bằng tinh thần. Chúng ta kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất đã làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do. Như thế là những việc chính phủ làm và nhân dân làm đều hợp tinh thần phúc âm.Cho nên tôi chúc đồng bào Công giáo làm tròn chính sách của Chính phủ cũng là làm tròn tinh thần của Chúa Cơ đốc[12].
Đối với các tín đồ tôn giáo, Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm đến đời sống tâm linh mà Người còn đặc biệt quan tâm đến đời sống hằng ngày. Từ quan điểm “phần xác có no ấm thì phần hồn mới thong dong”, Người chỉ đạo chính phủ cần có chính sách cụ thể để cải thiện đời sống cho đồng bào theo đạo. Người thường xuyên nhắc nhở các bộ cấp cơ sở phải thường xuyên chăm lo đời sống mọi mặt của đồng bào, từ ăn, mặc, ở, đi lại, học hành; các cơ sở thờ tự của các tôn giáo như đình chùa, miếu mạo, thánh thất, nhà thờ phải được tu sửa và bảo vệ.
Để thực sự tạo ra một hành lang pháp lý cho những người có đạo tự do thực hiện các hoạt động tôn giáo, trong suốt 24 năm giữ cương vị Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã ký ban hành nhiều văn bản, sắc lệnh có những điều khoản riêng về tôn giáo. Ví dụ Sắc lệnh số 65 ngày 23/11/1945: Ấn định nhiệm vụ Đông phương Bác cổ học viện, trong điều 4 có ghi:
Cấm phá hỏng những đình, chùa, đền miếu hoặc những nơi thờ tự khác: cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn.
Cấm phá hủy những bi ký, đồ vật, chiếu sắc văn bằng, giấy má sách vở có tích tôn giáo hay không nhưng có ích cho lịch sử mà không bảo tồn”.
Đặc biệt, ngày 14/6/1955, chính phủ ban hành sắc lệnh về tôn giáo gồm 5 chương, 16 điều khoản quy định chi tiết về quyền: Tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân, quyền của các Giáo hội tham gia vào hoạt động xã hội và các sinh hoạt tôn giáo riêng của mình. Nội dung các điều khoản này được đa số các giáo hội và giáo dân cơ bản đồng tình.
Trong thời này, Hồ Chí Minh thường xuyên viết thư thăm hỏi hoặc trực tiếp đi thăm các vùng có dân theo đạo để nắm sát tình hình và động viên bà con Công giáo. Khi được tin linh mục Lê Văn Yên ở Bắc Ninh luôn luôn ra sức củng cố tinh thần đại đoàn kết giữa đồng bào lương và giáo… tận tâm chăm sóc thương binh, hay Đức cha Hồ Ngọc Cẩn - Giám mục Bùi Chu ủng hộ cả dây chuyền vàng của mình cho Chính phủ trong “Tuần lễ vàng” đầu năm 1946, Hồ Chủ tịch nhanh chóng viết thư khen ngợi. Ngày 21/7/1968, khi biết tin máy bay Mỹ ném bom bắn phá Xã Đoài làm nhiều giám mục, tu sĩ và giáo dân bị thương, Người đã ngay lập tức gửi điện sẻ chia và an ủi. Rất nhiều linh mục, giám mục khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gọi điện và gửi thư chia buồn rất chân thành. Có thể nói, từ những bức thư, từ sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo, chúng ta đều cảm nhận tấm lòng của Người với các giáo dân, dù họ đang sinh sống ở miền Nam hay miền Bắc, dù đã giác ngộ hay chưa giác ngộ, đều hết sức chân thành, khoan dung và nhân ái. Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc cũng từ đó được nhân lên gấp bội khi có sự tham gia của đồng bào Công giáo.
Xét về mặt lý luận, Hồ Chí Minh là người mở ra khả năng kết hợp giữa Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Cộng sản và tôn giáo. Triệt để tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn liền với việc tăng cường đoàn kết và hòa hợp dân tộc là phương pháp hữu hiệu để giải quyết các vấn đề tôn giáo, hướng mọi người vào mục tiêu xã hội chung là: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Về mặt thực tiễn, quan điểm đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh chính là kim chỉ nam để Đảng và Nhà nước ta hoạch định những chủ trương, chính sách giải quyết vấn đề tôn giáo một cách đúng đắn.
3. Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo tham gia cách mạng và Sự ra đời của Ủy ban Liên lạc Công giáo toàn quốc - tổ chức tiền thân của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam ngày nay
Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra một sức hút vô cùng mãnh liệt đối với đồng bào các tôn giáo trên toàn cõi Việt Nam, đặc biệt là đối với đồng bào Công giáo. Bởi từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và giữ vai trò lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, những người Công giáo gia nhập Đảng Cộng sản không những không nhận được sự ủng hộ của Giáo hội Công giáo Việt Nam mà còn chịu sự cấm đoán vô cùng quyết liệt. Sự cấm đoàn này là một lực cản vô cùng ghê gớm đối với những người Công giáo có tinh thần yêu nước. Họ phải đứng trước sự lựa chọn; Thiên Chúa và Tổ quốc. Trong bối cảnh đó, chủ trương đại đoàn kết dân tộc, trước hết là đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh đã tạo ra một lực hấp dẫn đối với một bộ phận giáo sĩ, giáo dân kiên định lựa chọn con đường đồng hành cùng dân tộc.
Ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa thành lập, Đức giám mục Nguyễn Bá Tòng đã thay mặt người Công giáo gửi thư sứ điệp cho Đức Pio XII ngày 23 - 9 - 1945 để chia sẻ niềm vui và quyết tâm bảo vệ đất nước của cả dân tộc Việt Nam trong đó có đồng bào Công giáo. Ít lâu sau, cả 4 giám mục người Việt Nam lúc đó đã cùng ký tên vào bức diễn văn gửi Tòa thánh và Kitô hữu toàn thế giới yêu cầu ủng hộ nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với những lời lẽ hết sức thiết tha. Các giám mục, linh mục và giáo dân ở Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình cùng đã gửi thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ lòng son sắt: “Dù phải hy sinh xương máu để kiến thiết nước nhà tự do hạnh phúc hoàn toàn, thì chúng tôi cũng sẵn sàng không ngần ngại[13].
Thực tế cho thấy, Hồ Chí Minh đã thu hút, tập hợp được nhiều giáo sĩ và đông đảo giáo dân tham gia vào công cuộc kháng chiến và dựng xây đất nước. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Người đã tin tưởng và giao cho nhiều người trong các tôn giáo giữ các chức vụ cao cấp. Cụ thể như trường hợp Giám mục Lê Hữu Từ, Giám mục Hồ Ngọc Cẩn được mời làm cố vấn tối cao cho Chính phủ; Linh mục Phạm Bá Trực được cử làm Phó ban thường trực Quốc hội; Các trí thức tôn giáo như Nguyễn Mạnh Hà giữ chức Bộ trưởng kinh tế, bác sĩ Vũ Đình Tụng giữ chức Bộ trưởng Y tế... Sự thực này đã bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù muốn lợi dụng tôn giáo, hòng chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết tôn giáo và dân tộc. Khi thực dân Pháp quay lại hòng chiếm nước ta một lần nữa, ở miền Nam, nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân đã rời vùng địch hậu vào bưng biền tham gia kháng chiến và lập ra Hội Công giáo kháng chiến Nam Bộ. Tại các khu vực khác đều có các tổ chức kháng chiến của người Công giáo như Ủy ban Liên lạc Công giáo liên khu III, Ủy ban Liên lạc Công giáo Liên khu Tả Ngạn, Hội Công giáo kháng chiến khu Việt Bắc… Để quy tụ đồng bào các tôn giáo tham gia vào công cuộc kháng chiến cứu quốc, Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều thông tin, chỉ thị chỉ đạo nhằm tổ chức thêm nhiều đoàn thể cứu quốc mới vào Mặt trận Việt Minh như Việt Nam Công giáo cứu quốc hội, Việt Nam hướng đạo cứu quốc đoàn…
Tháng 8 năm 1953, tại chiến khu Việt Bắc đã diễn ra hội nghị tôn giáo toàn quốc với sự tham gia của 164 đại biểu đại diện cho các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành để nghiên cứu và thảo luận chính sách tôn giáo của chính phủ. Tại hội nghị này, các đại biểu Công giáo đã có cuộc tiếp xúc trao đổi tình hình, kinh nghiệm vận động tổ chức phong trào yêu nước trong đồng bào Công giáo tham gia kháng chiến và kiến quốc. Trong các cuộc tiếp xúc, ý tưởng thành lập một tổ chức yêu nước của người Công giáo trên quy mô toàn quốc đã được nêu ra. Ý tưởng đó đã được đề đạt lên Trung ương, Mặt trận và nhận được sự đồng tình, khích lệ. Tuy nhiên, do điều kiện kháng chiến nên mong muốn phải đến sau chiến thắng Điện Biên mới thành hiện thực.
 Tháng 3 năm 1955, cho thấy hiện nay đa số các linh mục và giáo dân tiến bộ ở cả miền Nam và miền Bắc đều tha thiết mong muốn có một tổ chức Công giáo toàn quốc để chống lại âm mưu của địch trong việc lợi dụng Công giáo, đồng thời hướng dẫn Công giáo đi theo con đường chính nghĩa: Phụng sự Thiên Chúa và Tổ quốc, nhằm mục đích:
  • Đẩy mạnh vạch trần mưu mô của địch lợi dụng tôn giáo.
  • Đẩy mạnh sự tranh thủ rộng rãi các giáo sĩ và giáo dân.
  • Làm cơ sở vững chắc cho các phần tử yêu nước tiến bộ trong Công giáo, hoạt động mạnh mẽ hơn nữa đặng gây một phong trào đấu tranh chống cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam và cùng đồng bào toàn quốc tham gia cuộc đấu tranh chính trị củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ.
Sau một thời gian chuẩn bị và nhận thấy đã hội đủ điều kiện về nhân sự, sự ủng hộ của Mặt trận, đồng bào Công giáo, Ban vận động đã quyết định triệu tập Hội nghị Công giáo toàn quốc lần thứ nhất. Hội nghị diễn ra tại Hà Nội, trong thời gian từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 3 năm 1955. Tham dự hội nghị có 191 đại biểu, trong đó có 46 Linh mục, 8 tu sĩ và 137 Chánh, Phó trưởng, Trùm trưởng và giáo dân tiêu biểu. Hội nghị đã trao đổi nhiều vấn đề quan trọng của phong trào Công giáo yêu nước và đi đến quyết định thành lập Ủy ban Liên lạc những người Công giáo Việt Nam yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, gọi tắt là Ủy ban Liên Lạc Công giáo toàn quốc. Đây chính là tổ chức tiền thân của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam.
Sự kiện thành lập một tổ chức của phong trào Công giáo yêu nước này được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng Người đã dành thời gian tiếp thân mật đoàn đại biểu dự đại hội và chụp ảnh lưu niệm chung tại Phủ Chủ tịch. Linh mục Võ Thành Trinh đã ghi lại câu nói của Người trong sự kiện trọng đại ngày hôm ấy: Các cụ biết tôi là cán bộ cách mạng, là người cộng sản. Những người cách mạng cộng sản có niềm tin khác với niềm tin tôn giáo. Nhưng mục đích của chúng tôi là chăm lo cho nhân dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành, sống sung sướng trong độc lập tự do. Các cụ lo việc tín ngưỡng, thờ Chúa, lo việc linh hồn tín hữu. Nhưng tín hữu cũng cần ăn, ở, mặc, học hành, cần được tự do hạnh phúc và các vị giáo sĩ chắc chắn cũng quan tâm rất nhiều. Người cách mạng và người tôn giáo thống nhất với nhau ở mục đích mưu cầu hạnh phúc ở đời này cho nhân dân. Chúng ta phải cùng nhau lo nhiệm vụ ấy. Còn đối với tín ngưỡng, tôn giáo thì đã có chính sách rõ ràng. Chúng tôi tôn trọng và đảm bảo tự do tín ngưỡng của tất cả các tôn giáo. Như thế, kẻ nào đặt ra việc Công giáo không đội trời chung với cộng sản là sai …”.
Có thể nói, suốt đời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một mong muốn là nước nhà độc lập, dân ta được tự do, hạnh phúc. Chính lý tưởng cao đẹp đó đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân Việt Nam trong đó có đồng bào các tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, kiên định con đường đi theo cách mạng. Nhìn lại chặng đường lịch sử hơn nửa thế kỷ qua của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam, chúng ta thấy rõ vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi nếu không có tầm nhìn lịch sử của một bậc vĩ nhân, sẽ không thể thấy được sức mạnh vô song của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cho đến hôm nay, những bài học về đoàn kết tôn giáo tạo sức mạnh dân tộc của Người vẫn còn nguyên giá trị. Đó là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước ta vận dụng trọng thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam trong từng thời kỳ lịch sử. Thực hiện tư tưởng của Người chính là góp phần xây dựng, củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững mạnh.
Sự ra đời của Ủy ban Liên lạc Công giáo toàn quốc (1955) - tổ chức tiền thân của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam (1983), là một tất yếu lịch sử, của khát vọng độc lập, thống nhất và lòng yêu nước của người Việt Nam nói chung và đồng bào Công giáo nói riêng. Từ khi ra đời, Ủy ban Liên lạc Công giáo Toàn quốc đã phát huy vai trò, nhiệm vụ của mình là đoàn kết tất cả đồng bào Công giáo cùng chung sức, đồng lòng tham gia kháng chiến, giành độc lập, tự do. Khối đoàn kết đó đã tạo nên sức mạnh đánh thắng kẻ thù xâm lược, từ thực dân Pháp tới đế quốc Mỹ, vượt qua những khó khăn, biến cố của lịch sử dân tộc, góp phần không nhỏ vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước hôm nay.
 
  UỶ BAN ĐOÀN KẾT CÔNG GIÁO VIỆT NAM
 

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 2011, t.3, tr.458
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 2011, t.7, tr.95.
[3] Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.67.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t7, tr 375
[5]Văn kiện Đảng 1930 – 1945, T.3, Ban NCLSĐTƯ, Hà Nội, 1977, tr.448
[6]Trần Tam Tỉnh, Thiên chúa và Hoàng đế - Người Công giáo trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, Ủy Ban ĐKCGYNVN, Nxb TPHCM, tr.52
[7]Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 1995, t.4, tr.115.
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 1995, t.4, tr.9.
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 1995, t.5, tr.28.
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sdd,  T1, tr.430.                                                                
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sdd, t. 4, tr.121.                                                
[12] Dẫn theo, Hữu Hợp – Tố Thanh, "Công giáo Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược", T/c Nghiên cứu Lịch sử, số 1-2/1988, Tr.62.
[13] Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam (2000), Kỷ yếu Đại hội đại biểu những người Công giáo Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lần thứ III, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, tr.6.
 
Thông tin khác:
Đại hội đại biểu người Công giáo Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lần thứ VII, nhiệm kỳ 2018 - 2023

 

Tiêu điểm
Website ubdkcgvn.org.vn được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log