Từ nền tảng kết quả của Chương trình MTQG 1719 giai đoạn 2021–2025, Quảng Ninh đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ đầu tư hỗ trợ sang kiến tạo động lực phát triển. Sang giai đoạn 2026–2030 khi thực hiện Chương trình MTQG 417, đột phá không chỉ nằm ở quy mô nguồn vốn, mà còn ở cách xác định nhu cầu, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện và đo lường hiệu quả chính sách, bảo đảm người dân thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển.
Công trình giao thông, cấp thoát nước vùng dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh được sửa chữa, xây mới. |
Vốn ngân sách phải thực sự trở thành vốn dẫn dắt Một trong những điểm đáng chú ý trong quá trình triển khai Chương trình MTQG 1719 tại Quảng Ninh những năm vừa qua là sự chủ động bố trí nguồn lực của địa phương. Giai đoạn 2021–2025, tỉnh bố trí trực tiếp 4.200 tỷ đồng vốn đầu tư công từ ngân sách tỉnh cho chương trình, đạt kế hoạch cả giai đoạn; đồng thời bố trí trên 460 tỷ đồng vốn sự nghiệp và hơn 500 tỷ đồng vốn ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội để cho vay.
Cách làm này cho thấy vai trò chủ động của ngân sách địa phương trong việc bảo đảm nguồn lực thực hiện chính sách dân tộc. Thay vì chỉ trông chờ vào nguồn vốn được phân bổ từ Trung ương, địa phương chủ động bố trí nguồn lực, tạo nền tảng cho việc triển khai các dự án hạ tầng và hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, đột phá về nguồn lực trong giai đoạn mới 2026- 2020 khi thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế- xã hội vùng đồngg bào dân tộc thiểu số không nên chỉ được hiểu là tăng thêm vốn hoặc huy động được nhiều nguồn vốn hơn. Điều quan trọng là tổ chức các nguồn lực theo hướng bổ trợ lẫn nhau, trong đó ngân sách nhà nước tập trung giải quyết những điểm nghẽn thiết yếu, tạo điều kiện để tín dụng chính sách, nguồn lực doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân cùng tham gia phát triển.
Đặc biệt, cần phân biệt giữa huy động vốn và hiệu quả sử dụng vốn. Vốn tín dụng phải được hoàn trả; nguồn lực xã hội hóa có thể ưu tiên những khu vực có điều kiện thuận lợi hơn. Nếu thiếu cơ chế hỗ trợ phù hợp, các hộ nghèo, hộ ở địa bàn xa trung tâm hoặc thiếu tư liệu sản xuất có thể gặp khó khăn trong tiếp cận cơ hội phát triển. Do đó, vốn đầu tư hạ tầng cần được gắn với phương án khai thác cụ thể; vốn hỗ trợ sản xuất phải đi cùng hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo nghề, liên kết tiêu thụ sản phẩm và khả năng tiếp cận thị trường. Đối với những mô hình sinh kế có tiềm năng, cần tăngcường vai trò của hợp tác xã, doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ để người dân không phải tự xoay xở sau khi chương trình kết thúc.
Kinh nghiệm từ giai đoạn 2021–2025 đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy hoàn thành danh mục đầu tư sang tư duy tạo ra giá trị phát triển. Một công trình chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được sử dụng thường xuyên, có kinh phí vận hành, bảo trì và phục vụ đúng nhu cầu của cộng đồng. Một mô hình sản xuất chỉ có ý nghĩa bền vững khi tạo được thu nhập ổn định, có đầu ra và đủ sức duy trì sau khi nguồn vốn hỗ trợ được rút dần.
Thích ứng với địa giới mới, bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng Việc Quảng Ninh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 1/7/2025, sắp xếp 171 đơn vị hành chính cấp xã trước đây thành 54 đơn vị hành chính cấp xã mới, gồm 22 xã, 30 phường và 2 đặc khu, làm thay đổi đáng kể yêu cầu quản lý địa bàn và tổ chức thực hiện chính sách.
Trong bối cảnh đó, rà soát đối tượng thụ hưởng, kế thừa dữ liệu và xác định lại nhu cầu
đầu tư không đơn thuần là công việc hành chính. Đây là khâu có ý nghĩa quyết định đối với tính chính xác và công bằng trong phân bổ nguồn lực. Việc UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2800/QĐ-UBND ngày 1/8/2026 phê duyệt danh sách 190 thôn, bản, khu phố thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2030 cho thấy yêu cầu cập nhật chính sách theo hệ thống địa giới và tiêu chí phân định mới.
Từ cơ sở này, tỉnh cần tiếp tục chuẩn hóa dữ liệu dân cư, điều kiện kinh tế – xã hội, mức độ thiếu hụt hạ tầng và nhu cầu sinh kế của từng địa bàn. Dữ liệu phải được cập nhật thường xuyên, có khả năng đối chiếu giữa các cấp quản lý, đồng thời được sử dụng trực tiếp trong quá trình lập kế hoạch và phân bổ vốn. Đặc biệt, việc sắp xếp đơn vị hành chính không nên dẫn đến cách hiểu rằng địa bàn quản lý rộng hơn đồng nghĩa với nhu cầu đầu tư ít đi. Trong một xã mới có thể tồn tại những thôn, bản có điều kiện phát triển rất khác nhau. Nếu chỉ sử dụng số liệu bình quân toàn xã, những khu vực còn khó khăn, xa trung tâm hoặc có điều kiện tiếp cận dịch vụ hạn chế có thể không được phản ánh đầy đủ.
Vì vậy, cần bảo đảm việc xác định đối tượng và ưu tiên đầu tư dựa trên tình hình thực tế của từng thôn, bản, khu phố, thay vì chỉ căn cứ vào quy mô đơn vị hành chính mới. Đây là cơ sở để hạn chế bỏ sót đối tượng, tránh đầu tư chồng chéo và bảo đảm chính sách đến đúng người, đúng nhu cầu.
Quản trị theo kết quả, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh dự kiến bố trí khoảng 9.785 tỷ đồng ngân sách cấp tỉnh để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Nếu giai đoạn 2021–2025 đặt nền móng về hạ tầng và nguồn lực, thì giai đoạn 2026–2030 thực hiện Chương trình 417 cần tạo chuyển biến rõ hơn về chất lượng quản trị chương trình.
Trọng tâm là xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá dựa trên kết quả đầu ra và tác động thực tế, thay vì chủ yếu tổng hợp số dự án, tỷ lệ giải ngân hoặc số hộ được hỗ trợ. Mỗi khoản vốn cần gắn với mục tiêu cụ thể; mỗi công trình cần có phương án vận hành, bảo trì; mỗi mô hình sinh kế cần được theo dõi về thu nhập, việc làm, khả năng tiêu thụ sản phẩm và mức độ duy trì sau hỗ trợ.
Cùng với đó, công khai thông tin về vốn được giao, tiến độ thực hiện, đối tượng thụ hưởng và kết quả đầu tư cần trở thành một nội dung xuyên suốt. Cơ chế giám sát phải phát huy vai trò của người dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng tại địa bàn thụ hưởng. Việc tiếp nhận phản ánh từ cơ sở cần được thực hiện thường xuyên để kịp thời điều chỉnh những nội dung không còn phù hợp.
Một yêu cầu quan trọng khác là nâng cao năng lực tổ chức thực hiện tại cấp cơ sở. Cán bộ trực tiếp triển khai chương trình cần được hỗ trợ về kỹ năng lập kế hoạch, quản lý dự án, theo dõi vốn, đánh giá hiệu quả và ứng dụng công nghệ số. Phân cấp chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng nguồn lực, năng lực thực thi và cơ chế kiểm tra phù hợp.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo của Quảng Ninh, phát triển kinh tế cần gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và củng cố quốc phòng, an ninh. Những giá trị văn hóa truyền thống, tri thức bản địa và lợi thế về cảnh quan, sản vật địa phương có thể trở thành nguồn lực phát triển nếu được khai thác phù hợp, tránh thương mại hóa thiếu kiểm soát hoặc làm suy giảm bản sắc cộng đồng.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là giảm nghèo về thu nhập, mà còn là mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, nước sạch, thông tin, việc làm và các dịch vụ thiết yếu; giúp người dân có thêm năng lực lựa chọn sinh kế, chủ động tham gia thị trường và cải thiện đời sống bằng chính khả năng của mình.
Đó cũng là ý nghĩa cốt lõi của bước chuyển từ hỗ trợ sang kiến tạo phát triển: biến nguồn vốn đầu tư thành năng lực tự phát triển của cộng đồng, tạo cơ hội để người dân vươn lên và bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Với nền tảng đã tạo dựng, cùng yêu cầu đổi mới về quản trị, phân bổ nguồn lực và trách nhiệm thực thi, Quảng Ninh có cơ sở phát huy hiệu quả Chương trình MTQG 417 giai đoạn I (2026–2030), hướng tới phát triển bao trùm, bền vững, đồng thời củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân nơi biên giới, hải đảo của Tổ quốc.
Bùi An