Các bạn trẻ khám phá, tìm hiểu lịch sử Hà Nội thông qua những nút chạm công nghệ tại không gian trưng bày. Ảnh: P. Sỹ |
Kiến tạo giá trị trên không gian số
Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đã có những bước tiến đáng kể. Nhiều di tích, hiện vật, lễ hội, tư liệu Hán Nôm, bảo vật quốc gia và các loại hình di sản văn hóa phi vật thể… đã được số hóa dưới nhiều hình thức như cơ sở dữ liệu, mô hình 3D, bảo tàng trực tuyến hay triển lãm số. Những kết quả này không chỉ góp phần bảo tồn giá trị di sản mà còn mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Tuy nhiên, khi AI ngày càng phát triển và các nền tảng xuyên biên giới như YouTube, TikTok, Facebook, Netflix… trở thành những "không gian văn hóa" mới. Lúc này, vấn đề cần phải đặt ra là việc làm chủ nguồn dữ liệu văn hóa.
Thực tế cho thấy, phần lớn nội dung văn hóa mà người dùng Việt Nam tiếp cận hằng ngày đều được phân phối thông qua các nền tảng toàn cầu. Nếu văn hóa Việt Nam không hiện diện bằng những sản phẩm số hấp dẫn, có khả năng cạnh tranh và đáp ứng được ngôn ngữ của môi trường số. Từ đó, nguy cơ bị lép vế ngay trên chính không gian mạng là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Bởi vậy, việc gìn giữ bản sắc văn hóa trong kỷ nguyên số chính là quá trình tạo ra những giá trị Việt Nam đủ sức hấp dẫn để hiện diện, lan tỏa và cạnh tranh bình đẳng trong không gian số toàn cầu. Lúc này, văn hóa Việt Nam cần phải trở thành một chủ thể sáng tạo, có tiếng nói và sức ảnh hưởng trên chính các nền tảng số.
GS.TS Từ Thị Loan - Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa Thăng Long nhận định, trước sự phát triển rất nhanh của các nền tảng xuyên biên giới, Việt Nam không nên chỉ phản ứng theo hướng “quản lý” hay “hạn chế” những tác động từ bên ngoài, mà cần xây dựng một chiến lược chủ động hơn: vừa làm chủ không gian số, vừa làm chủ năng lực sáng tạo và năng lực định hình các giá trị văn hóa trong không gian đó.
“Giữ gìn bản sắc trong kỷ nguyên số không có nghĩa là dựng lên những “bức tường văn hóa”, mà là tạo ra những giá trị Việt Nam đủ hấp dẫn để hiện diện, lan tỏa và cạnh tranh trong không gian số toàn cầu. Nói cách khác, chúng ta không chỉ cần bảo vệ văn hóa Việt Nam trước sự cạnh tranh của các nền tảng xuyên biên giới, mà phải đưa văn hóa Việt Nam trở thành một chủ thể có sức sáng tạo và sức hấp dẫn trong chính không gian ấy”, bà Loan nói.
Như vậy, nếu trước đây di sản chủ yếu được nhìn nhận như một giá trị cần bảo tồn thì trong kỷ nguyên số, di sản còn là nguồn tài nguyên dữ liệu có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế văn hóa.
Để dữ liệu văn hóa trở thành tài sản
Mặc dù công tác số hóa đã được triển khai ở nhiều địa phương, song thực tế cho thấy quá trình này vẫn còn không ít hạn chế. Hiện nay, việc số hóa di sản ở nhiều nơi chủ yếu dừng lại ở khâu sưu tầm, lưu trữ, lập hồ sơ hoặc xây dựng các cơ sở dữ liệu riêng lẻ… nhiều vấn đề nền tảng vẫn chưa được giải quyết đồng bộ như: quyền sở hữu dữ liệu, quyền khai thác, bản quyền số… Đó chính là những điểm nghẽn khiến dữ liệu văn hóa chưa thể trở thành một loại tài sản số đúng nghĩa. Đặc biệt, trong bối cảnh AI đang phát triển với tốc độ rất nhanh, vấn đề này càng trở nên cấp thiết.
Về vấn đề này, GS.TS Từ Thị Loan cho rằng, rào cản lớn nhất hiện nay không phải là thiếu di sản, thiếu dữ liệu hay thiếu tiềm năng sáng tạo, mà là chưa hình thành được một hệ sinh thái đủ hoàn chỉnh để chuyển hóa di sản từ giá trị văn hóa thành dữ liệu, từ dữ liệu thành tri thức, từ tri thức thành tài sản trí tuệ và từ tài sản trí tuệ thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế.
“Để biến kho tàng di sản thành tài sản đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế số, cần xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia theo hướng số hóa có hệ thống, chuẩn hóa, liên thông và có khả năng cập nhật. Tiếp đó, xác lập khung pháp lý rõ ràng cho việc quản trị và khai thác dữ liệu di sản. Trong đó bảo đảm hài hòa giữa lợi ích quốc gia, quyền của cộng đồng và quyền của các chủ thể sáng tạo. Hình thành các đội ngũ và doanh nghiệp có khả năng kết nối văn hóa với công nghệ, kinh doanh và sáng tạo. Từ dữ liệu di sản có thể phát triển phim ảnh, âm nhạc, trò chơi, thời trang, thiết kế, xuất bản, giáo dục số, du lịch trải nghiệm và nhiều sản phẩm công nghiệp văn hóa khác”, bà Loan nói.
Còn theo TS Nguyễn Văn Tú - Phó Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám, nếu không có một bộ dữ liệu hoàn chỉnh thì rất khó nói đến sáng tạo. Cần tiếp tục hoàn thiện số hóa hiện vật, di tích và dữ liệu di sản. Trên cơ sở đó mới có thể phát triển các sản phẩm công nghiệp số, công nghiệp văn hóa và khai thác hiệu quả giá trị của dữ liệu. Tuy nhiên, dữ liệu chỉ phát huy tác dụng khi đi cùng hạ tầng công nghệ, khả năng kết nối và các hoạt động truyền thông, quảng bá, thay vì chỉ tồn tại như một cơ sở lưu trữ.
Như vậy, làm chủ không gian văn hóa số không phải là dựng lên những “bức tường” để bảo vệ bản sắc, mà là một quá trình chủ động xây dựng nội lực, từ dữ liệu, công nghệ, thể chế đến con người, để văn hóa Việt Nam có đủ sức sống, đủ sức hấp dẫn và đủ khả năng cạnh tranh trong môi trường số toàn cầu. Chỉ khi dữ liệu văn hóa được nhìn nhận là một loại tài sản chiến lược, được đầu tư, quản trị và khai thác hiệu quả, quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa mới thực sự tạo ra giá trị bền vững. Khi đó, số hóa sẽ không chỉ dừng lại ở việc lưu giữ quá khứ, mà còn trở thành động lực để văn hóa Việt Nam bước vào tương lai với tâm thế chủ động, tự tin và sáng tạo.
Phạm Sỹ
Nguồn https://daidoanket.vn/