Ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng mô hình “xã thương mại điện tử” mở ra hướng tiếp cận thị trường mới cho nông sản của người dân xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu. |
Từ số hóa vùng trồng dược liệu, đưa sản phẩm OCOP lên sàn thương mại điện tử đến quảng bá du lịch cộng đồng trên nền tảng số, nhiều địa phương miền núi đang từng bước khai thác công nghệ để mở rộng thị trường, phát huy lợi thế bản địa và nâng cao thu nhập cho người dân. Gắn những mô hình này với Chương trình mục tiêu quốc gia 417 giai đoạn 2026–2030 sẽ tạo thêm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng bền vững. Cũng cần lưu ý rằng, nếu chỉ tập trung đưa sản phẩm lên mạng mà chưa giải quyết được các vấn đề về chất lượng, nguồn cung và logistics, hiệu quả kinh tế sẽ khó bền vững
Công nghệ số đưa sản phẩm vùng cao đến gần thị trường Ngày 31/1/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 417/QĐ-BNNMT phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2035, giai đoạn I từ năm 2026 đến năm 2030.
Chương trình có nội dung thành phần về hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế và nâng cao thu nhập; phát triển nguồn nhân lực; cùng với công tác truyền thông, tuyên truyền, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Việc xác định chuyển đổi số là một nội dung của Chương trình tạo cơ sở để các địa phương gắn ứng dụng công nghệ với những nhiệm vụ phát triển cụ thể, thay vì triển khai riêng lẻ, thiếu liên kết với hoạt động sản xuất và đời sống.
Thực tế tại một số địa phương cho thấy, khi công nghệ được gắn với nhu cầu sản xuất và tiêu thụ cụ thể, chuyển đổi số không còn là khái niệm xa lạ mà từng bước trở thành công cụ phục vụ phát triển kinh tế. Từ chiếc điện thoại thông minh, các hộ sản xuất, hợp tác xã có thể giới thiệu nông sản, quảng bá sản phẩm đặc trưng, kết nối khách hàng và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hàng hóa.
Tại xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu, mô hình “xã thương mại điện tử” đang mở ra hướng tiếp cận mới cho sản phẩm địa phương. Đến nửa đầu năm 2026, xã có 12 sản phẩm OCOP, trong đó 8 sản phẩm đã được đưa lên TikTok Shop. Riêng làng nghề miến dong có khoảng 80 hộ tham gia sản xuất, với sản lượng khoảng 1.000 tấn mỗi năm.
Việc đưa sản phẩm lên nền tảng trực tuyến không chỉ mở rộng kênh tiêu thụ mà còn thúc đẩy các chủ thể sản xuất quan tâm hơn đến chất lượng, hình ảnh, bao bì, bảo quản và xây dựng thương hiệu. Để đáp ứng yêu cầu của thị trường, nhiều hợp tác xã đã chủ động chuẩn hóa vùng nguyên liệu, đăng ký nhãn hiệu và cải thiện quy cách đóng gói.
Từ thực tiễn Bình Lư có thể thấy, thương mại điện tử phát huy hiệu quả khi được triển khai cùng quá trình tổ chức lại sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hóa và xây dựng chuỗi cung ứng. Đây cũng là hướng đi có ý nghĩa đối với những địa bàn miền núi có sản phẩm đặc trưng nhưng còn gặp khó khăn trong kết nối thị trường.
Tại xã Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh, một địa bàn miền núi có hơn 98% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, với địa hình rộng, dân cư phân tán và nhiều tiềm năng phát triển kinh tế dựa trên tài nguyên rừng, cây dược liệu và bản sắc văn hóa.
Trong sáu tháng đầu năm 2026, Kỳ Thượng tổ chức 13 lớp “Bình dân học vụ số”, thu hút gần 800 lượt người tham gia. Cùng với hướng dẫn người dân sử dụng các ứng dụng số, lực lượng đoàn viên, thanh niên đã hỗ trợ số hóa dữ liệu vùng trồng tại 17 thôn, giúp 120 hộ dân cập nhật thông tin phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc, quảng bá sản phẩm và tìm kiếm thông tin thị trường.
Đối với cây dược liệu ba kích tím, việc số hóa dữ liệu vùng trồng tạo tiền đề để quản lý thông tin sản xuất, minh bạch nguồn gốc và nâng cao khả năng giới thiệu sản phẩm đến người tiêu dùng. Đây là bước quan trọng trong quá trình xây dựng sản phẩm có thông tin rõ ràng, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường.
Không dừng ở nông nghiệp, Kỳ Thượng còn khai thác công nghệ số để quảng bá du lịch cộng đồng. Địa phương từng bước xây dựng dữ liệu về điểm đến, giới thiệu cảnh quan, bản sắc văn hóa của đồng bào Sán Chỉ, Tày, Dao và ứng dụng mã QR tại sản phẩm OCOP, điểm tham quan. Trong sáu tháng đầu năm 2026, xã đón khoảng 11.500 lượt khách, đạt trên 50% kế hoạch năm; doanh thu du lịch ước khoảng 4,3 tỷ đồng.
Các số liệu này phản ánh kết quả du lịch của địa phương trong cùng kỳ, không phải mức tăng trưởng được xác định riêng do chuyển đổi số. Tuy nhiên, thực tiễn Kỳ Thượng cho thấy việc kết hợp quảng bá trên nền tảng số với khai thác tài nguyên bản địa có thể tạo thêm điều kiện phát triển du lịch, mở rộng cơ hội việc làm và đa dạng hóa nguồn thu cho người dân.
Đáng chú ý, địa phương còn triển khai mô hình “Chi hội Phụ nữ số” tại thôn Hồng Tiến với 20 thành viên; tổ chức tập huấn bán hàng trực tuyến và chuyển đổi số cho 80 cán bộ, hội viên nòng cốt. Những hoạt động này góp phần tạo điều kiện để phụ nữ vùng cao tiếp cận kỹ năng kinh doanh mới, từng bước tham gia sâu hơn vào hoạt động phát triển kinh tế tại cộng đồng.
Từ phổ cập kỹ năng số đến nâng cao năng lực tự phát triển Những mô hình tại Lai Châu và Quảng Ninh cho thấy, thiết bị và nền tảng công nghệ chỉ là điều kiện ban đầu. Yếu tố quyết định là khả năng sử dụng công nghệ của người dân, mức độ phù hợp của giải pháp với điều kiện địa phương và khả năng chuyển hóa ứng dụng số thành giá trị kinh tế thực tế.
Tại nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số, một bộ phận người dân còn hạn chế về kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh, giao dịch trực tuyến, quản lý đơn hàng và quảng bá sản phẩm. Bán hàng qua nền tảng số cũng đặt ra những yêu cầu mới về hình ảnh, nhãn mác, giá bán, đóng gói, vận chuyển, thanh toán và chăm sóc khách hàng.
Vì vậy, phổ cập kỹ năng số cần gắn trực tiếp với nhu cầu sinh kế. Người trồng trọt cần được hướng dẫn tiếp cận thông tin sản xuất, quản lý dữ liệu vùng trồng và truy xuất nguồn gốc; hợp tác xã cần được hỗ trợ vận hành gian hàng trực tuyến, quản lý đơn hàng và xây dựng thương hiệu; các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng cần biết quảng bá điểm đến, giới thiệu dịch vụ và tiếp nhận thông tin đặt chỗ qua môi trường số.
Kinh nghiệm được rút ra trong quá trình phổ cập kỹ năng số là phương pháp hướng dẫn trực tiếp, dễ hiểu, phù hợp với từng nhóm người dân. Việc phát huy vai trò của đoàn viên, thanh niên, tổ công nghệ số cộng đồng, cán bộ cơ sở sẽ giúp kiến thức công nghệ đến gần hơn với từng hộ gia đình.
Cùng với đào tạo, cần quan tâm đến hạ tầng viễn thông, chất lượng kết nối Internet và khả năng tiếp cận thiết bị. Đặc biệt, người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần được trang bị kỹ năng bảo vệ thông tin cá nhân, nhận diện lừa đảo và thực hiện giao dịch an toàn trên môi trường số.
Cũng cần lưu ý rằng, nếu chỉ tập trung đưa sản phẩm lên mạng mà chưa giải quyết được các vấn đề về chất lượng, nguồn cung và logistics, hiệu quả kinh tế sẽ khó bền vững. Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân có thể chủ động khai thác công nghệ, giảm sự phụ thuộc vào hỗ trợ bên ngoài và từng bước làm chủ hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.