› Tin tức - Hoạt động

Từ đổi thay cuộc sống đến niềm tin của đồng bào Khmer

Cập nhật lúc 09:22 24/10/2026
Các chính sách dân tộc và chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang góp phần cải thiện đời sống đồng bào Khmer tại An Giang.
Giao thông được đầu tư nâng cấp, tạo thuận lợi cho người dân xã Tri Tôn, tỉnh An Giang phát triển kinh tế.
Giao thông được đầu tư nâng cấp, tạo thuận lợi cho người dân xã Tri Tôn, tỉnh An Giang phát triển kinh tế.

 Tạo sinh kế, từng bước nâng cao đời sống

Là địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, An Giang xác định công tác dân tộc là một trong những nhiệm vụ quan trọng gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh. Những năm qua, nhiều chương trình hỗ trợ đã được triển khai nhằm cải thiện điều kiện sống, tạo cơ hội phát triển sản xuất và giúp các hộ khó khăn từng bước ổn định kinh tế gia đình.

Toàn tỉnh hiện có khoảng 472.132 người thuộc các dân tộc thiểu số, chiếm 9,53% dân số. Trong đó, đồng bào Khmer có hơn 399.000 người, bên cạnh cộng đồng người Hoa và người Chăm. Với đặc điểm dân cư và điều kiện kinh tế - xã hội ở từng địa bàn, việc triển khai chính sách được chú trọng theo hướng thiết thực, gắn hỗ trợ trực tiếp với nhu cầu của người dân.

Tại xã Ô Lâm, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, nhiều hộ gia đình đã có thêm cơ hội cải thiện cuộc sống nhờ được hỗ trợ phương tiện sản xuất, vật nuôi và nhà ở. Những nguồn lực này không chỉ giúp người dân giảm bớt gánh nặng trước mắt mà còn tạo điều kiện để chủ động phát triển kinh tế, hướng đến cuộc sống ổn định lâu dài.

Trước đây, gia đình ông Chau Siêng, ngụ ấp Phước Lợi, xã Ô Lâm, chủ yếu dựa vào công việc làm thuê theo mùa vụ. Thu nhập không ổn định khiến việc trang trải sinh hoạt và cải thiện chỗ ở luôn là nỗi lo của gia đình.

Từ chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình ông được cấp một con bò sinh sản trị giá khoảng 25 triệu đồng để phát triển chăn nuôi. Theo cơ chế hỗ trợ xoay vòng, sau 3 năm, hộ thụ hưởng hoàn lại khoảng 2,5 triệu đồng để tạo nguồn lực tiếp tục hỗ trợ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn khác.

Cùng với hỗ trợ con giống, gia đình ông Chau Siêng còn được trang bị máy móc, nông cụ phục vụ sản xuất. Đáng chú ý, gia đình được Nhà nước hỗ trợ 60 triệu đồng, kết hợp phần kinh phí đối ứng để xây dựng nhà mới, từng bước ổn định nơi ở.

Ông Chau Siêng chia sẻ: “Trước đây vợ chồng tôi rất khó khăn, phải đi làm thuê để kiếm sống. Từ khi được Nhà nước hỗ trợ nhà ở và bò sinh sản, cuộc sống gia đình đỡ vất vả hơn trước. Tôi mong sẽ có thêm nhiều hộ khó khăn khác được hỗ trợ để cùng vươn lên ổn định cuộc sống”.

Từ những hỗ trợ ban đầu, gia đình ông có thêm điều kiện tổ chức sản xuất, phát triển đàn bò và cải thiện thu nhập. Câu chuyện của gia đình ông cho thấy ý nghĩa của việc kết hợp chính sách an sinh với hỗ trợ sinh kế, giúp người dân có thêm cơ hội tự lực vươn lên thay vì chỉ trông chờ vào sự trợ giúp trước mắt.

Mở rộng cơ hội phát triển kinh tế hộ gia đình

Bên cạnh hỗ trợ trực tiếp về vật nuôi, công cụ sản xuất và nhà ở, việc tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi cũng là giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế hộ gia đình.

Tại ấp Phước Lộc, xã Ô Lâm, chị Neáng Sóc Tha từng gặp nhiều khó khăn khi phần lớn thời gian ở nhà chăm sóc mẹ già, còn chồng làm thuê để trang trải chi phí sinh hoạt. Nguồn thu nhập phụ thuộc vào công việc thời vụ khiến kinh tế gia đình thiếu ổn định.

Khi được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi với lãi suất khoảng 0,65% mỗi tháng, chị Sóc Tha quyết định mở quầy buôn bán nhỏ ngay tại nhà. Dù quy mô kinh doanh chưa lớn, hoạt động buôn bán đã tạo thêm nguồn thu, giúp gia đình có điều kiện chủ động hơn trong chi tiêu hằng ngày.

Chị Neáng Sóc Tha cho biết: “Trước đây kinh tế gia đình chủ yếu dựa vào việc chồng đi làm thuê nên cuộc sống khá chật vật. Từ khi được vay vốn với lãi suất thấp để buôn bán nhỏ, thu nhập gia đình ổn định hơn, cuộc sống cũng đỡ khó khăn hơn trước”.

Thực tế này cho thấy, khi nguồn vốn được đưa đến đúng đối tượng và gắn với nhu cầu thực tế, người dân có thể chủ động lựa chọn hướng làm ăn phù hợp với điều kiện gia đình. Qua đó, chính sách tín dụng ưu đãi không chỉ hỗ trợ giải quyết khó khăn trước mắt mà còn góp phần khơi dậy tinh thần tự chủ, khuyến khích người dân mạnh dạn đầu tư phát triển kinh tế.

Cùng với nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, sự chủ động của mỗi hộ gia đình là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả và tính bền vững của các chương trình. Việc kết hợp giữa hỗ trợ ban đầu, hướng dẫn sản xuất và ý thức vươn lên của người dân sẽ tạo nền tảng để từng bước nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững.

Phát huy vai trò cơ sở, củng cố khối đại đoàn kết

Hiệu quả của chính sách dân tộc không chỉ được thể hiện qua những công trình hạ tầng hay mô hình phát triển kinh tế mà còn phụ thuộc đáng kể vào quá trình tổ chức thực hiện tại cơ sở. Trong đó, đội ngũ cán bộ xã, ấp cùng những người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số giữ vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, hướng dẫn và đưa chủ trương, chính sách đến gần hơn với người dân.

Thông qua các hoạt động vận động, giải thích và hỗ trợ tiếp cận chương trình, người dân có điều kiện hiểu rõ hơn về quyền lợi, trách nhiệm cũng như cách thức tham gia các chính sách. Sự gần gũi, am hiểu phong tục, tập quán và hoàn cảnh của từng gia đình giúp công tác tuyên truyền đạt hiệu quả thiết thực hơn, đồng thời tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai.

Khi được tiếp cận thông tin đầy đủ và nhận thấy lợi ích cụ thể từ các chương trình, nhiều hộ dân mạnh dạn tham gia phát triển sản xuất, sử dụng nguồn lực hỗ trợ để cải thiện cuộc sống. Đây cũng là cơ sở để tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa chính quyền với nhân dân, phát huy vai trò của cộng đồng trong thực hiện các mục tiêu phát triển tại địa phương.

Bên cạnh đó, những người có uy tín trong đồng bào Khmer còn góp phần gìn giữ sự đoàn kết, vận động người dân chấp hành chủ trương, chính sách và nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng. Việc cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, gắn với những kết quả thực tế trong đời sống cũng góp phần nâng cao khả năng nhận diện, phản bác thông tin sai lệch, hạn chế các luận điệu gây chia rẽ giữa các dân tộc.

Một trong những kết quả đáng chú ý trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc tại An Giang là sự cải thiện về kết cấu hạ tầng và điều kiện sinh hoạt ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo số liệu được cung cấp, 100% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã có đường ô tô đến trung tâm; trên 95% ấp đặc biệt khó khăn có đường giao thông; gần 99% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và khoảng 89,3% hộ dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

Những kết quả này góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc đi lại, giao thương, sản xuất và tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Hạ tầng được cải thiện cũng mở ra thêm cơ hội phát triển kinh tế, giúp người dân từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa bàn.

Chính sách đi vào cuộc sống, niềm tin được bồi đắp

Từ những chuyển biến trong từng gia đình đến sự đổi thay của các địa bàn có đông đồng bào Khmer sinh sống, thực tiễn tại An Giang cho thấy chính sách dân tộc có ý nghĩa thiết thực khi được triển khai sát nhu cầu và gắn với điều kiện cụ thể của người dân.

Một căn nhà kiên cố, một con bò sinh sản hay nguồn vốn để mở rộng buôn bán có thể chưa làm thay đổi hoàn toàn hoàn cảnh của một gia đình, nhưng đó là những nguồn lực quan trọng giúp người dân có thêm điểm tựa để vươn lên. Khi các hỗ trợ được thực hiện đúng đối tượng, đi kèm với sự hướng dẫn và ý thức chủ động của người thụ hưởng, hiệu quả chính sách có điều kiện được duy trì lâu dài.

Quan trọng hơn, những lợi ích thiết thực mà người dân trực tiếp cảm nhận góp phần củng cố niềm tin vào chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Niềm tin ấy được bồi đắp từ những thay đổi cụ thể trong đời sống, từ cơ hội phát triển kinh tế, điều kiện sinh hoạt ngày càng tốt hơn đến sự quan tâm, đồng hành của chính quyền và cộng đồng.

Đối với vùng đồng bào Khmer, việc tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình dân tộc, phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và người có uy tín sẽ là những yếu tố quan trọng để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa và tăng cường sự gắn kết giữa các dân tộc.

Trong chặng đường phát triển tiếp theo, yêu cầu đặt ra là tiếp tục rà soát nhu cầu thực tế, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, chú trọng sinh kế bền vững và tạo điều kiện để người dân tham gia chủ động hơn vào quá trình phát triển. Khi chính sách thực sự trở thành điểm tựa cho người dân, những chuyển biến về kinh tế - xã hội sẽ tiếp tục góp phần vun đắp niềm tin, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo động lực phát triển bền vững tại An Giang.

Nguyễn Nga
Thông tin khác:
Cha mẹ đỡ đầu: Sứ mạng đồng hành và nuôi dưỡng đức tin (23/10/2026)
Ứng dụng công nghệ số mở ra cơ hội mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số Gia Lai (23/10/2026)
Chuyển đổi số mở lối phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số (22/10/2026)
Nghệ An tăng tốc giải ngân vốn chương trình mục tiêu quốc gia (21/10/2026)
Mặt trận Tổ quốc tỉnh Phú Thọ phát huy vai trò giám sát thực hiện Chương trình MTQG 417 (21/10/2026)
Vĩnh Long đổi mới cách làm, tạo động lực phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số (20/10/2026)
Quảng Ninh: Đổi mới phương thức triển khai, khơi thông nguồn lực phát triển vùng dân tộc thiểu số, miền núi (20/10/2026)
Đức Thánh Cha gửi sứ điệp đến hội nghị quốc tế về Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô I (16/10/2026)
Cụm thi đua Ủy ban Đoàn kết Công giáo các tỉnh miền Bắc tổ chức nhiều hoạt động tại Thái Nguyên (15/10/2026)
Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam
Số giấy phép: 183/GP-TTĐT cấp ngày 31/05/2017.
Địa chỉ ban biên tập: 59 Tràng Thi, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: (04) 39363013 - Email: mariadohoa@gmail.com
Website ubdkcgvn.org.vn được phát triển bởi đơn vị MIP™(mCMS).
log